Tiểu sử
Hou Hsiao-hsien (Hầu Hiếu Hiền) từng khẳng định: "Ngôn ngữ điện ảnh có thể chuyển tải ý nghĩa của bộ phim hơn cả lời nói". Đạo diễn 61 tuổi này tiết lộ trong lễ trao giải Kim Mã - Đài Loan hồi tháng 11/2005 rằng ông dự định thực hiện bộ phim thật sự độc đáo và truyền cảm hứng cho người xem và không bận tâm đối với các giải thưởng nữa. Gần hai thập kỷ qua, Hou Hsiao-hsien đã gây ấn tượng đối với khán giả xem điện ảnh phương Tây và Châu Á qua những bộ phim mang tính nghệ thuật độc đáo của ông gắn với những giai đoạn đặc trưng khó khăn của cách mạng xã hội mà phần lớn bối cảnh thuộc Đài Bắc, Cao Hùng, Cơ Long…
Trong cuộc thăm dò ý kiến của các nhà phê bình điện ảnh năm 1988, Hou được nhà phê bình của Mỹ và quốc tế bình chọn là "Director of the Decade", là một trong ba đạo diễn Châu Á có sức ảnh hưởng đến nền điện ảnh tương lai.
Hou Hsiao Hsien cũng là đạo diễn Đài Loan duy nhất có bốn trong tổng số 100 phim tiếng Hoa hay nhất do báo chí, khán giả và các nhà phê bình Hong Kong bình chọn năm 2005, vượt mặt Lý An, Dương Đức Xương và Thái Minh Lượng.

Vài nét về tiểu sử và sự nghiệp phim ảnh
Hou Hsiao Hsien sinh ngày 08/04/1947 tại vùng Meixian ở tỉnh Quảng Đông, vẫn thường được biết đến như một trung tâm của những người tri thức tại Trung Quốc. Năm 1948, gia đình ông di cư đến Đài Loan và như những đứa trẻ sống ở đó, Hou đã đi quá mức về mặt giáo dục. Năm 1969, ông học ngành điện ảnh tại The National Taiwan Arts Academy và được cấp bằng về quay phim. Sau khi tốt nghiệp, Hou phải làm việc buôn bán suốt một năm. 1973, Hou đến với điện ảnh bằng việc viết kịch bản và làm trợ lý đạo diễn. Hou ra mắt bộ phim đầu tiên của mình trong cương vị là đạo diễn với Cute Girls vào 1980. Nhưng mãi cho đến khi ông thực hiện bộ phim The Boys from Fengkeui, một trong những bộ phim đầu tay của ông trong phong trào điện ảnh mới tại Đài Loan, Hou đã được một số nhà phê bình đánh giá cao.
Trong bộ phim The Sandwich Man: The Son Big’s Doll (Erzi de Dawan’ou) năm 1983, bối cảnh được Hou xây dựng vào thời điểm giữa thập niên 60 - cũng là thời trai trẻ của ông - kể lại câu chuyện một thanh niên ở quê có tính cách yếu đuối, ủy mị khác thường đã ăn mặc như anh hề và chất đầy những biển báo quảng cáo đi rảo khắp các con đường vào một ngày hè ngột ngạt, cố gắng gây lôi cuốn và để thử thách bản thân trải qua tính nhút nhát của mình. Không gian melo trực diện của The Sandwich Man có thể rất buồn chán và khó xem như cũng thật rực rỡ với những hình ảnh đẹp và cái tôi cá nhân trải dài. Phim dựa theo truyện ngắn của Huang Chun-ming.

The Boys from Fengkuei (1983)
Đam mê về một thời tuổi trẻ nhiều kỉ niệm theo Hou trong suốt những bộ phim gây chú ý sau đó như The Boys from Fengkuei (1983) mở đầu bằng hình ảnh tĩnh và gần của đường phố lớn ở làng chài ở Fengkeui thuộc đảo Penghu bị tàn phá trong sự hoang sơ, gợi ý cho khán giả về cái kết buồn của bộ phim. Tiếp đó là A Time to Live and a Time to Die (Tong nien wang shi) năm 1985 với trăn trở về cuộc sống của những con người luôn đi tìm đất lành. Năm này, Hou xuất hiện với tư cách diễn viên trong bộ phim nổi tiếng Teipei Story của đạo diễn vừa qua đời Edward Yang (Dương Đức Xương) do chính Hou viết kịch bản. Dust in the Wind (Lianlian fengchen) năm 1986 thì cho người xem cảm nhận sự thay đổi khác biệt của hai người bạn nam nữ từ quê lên Đài Bắc và đối mặt với cuộc sống đương đại.

A Time to Live and a Time to Die (1985)
Phong cách của Hou thời gian này bao gồm hai tiêu điểm chính: sự biến đổi đột ngột của xã hội và tinh thần truyền thống gia đình những năm 60-70. Các nhân vật trong phim của ông đều nói tiếng Đài ngữ, Hakka, Fukienese, một chút tiếng Nhật và Anh. Hou không phủ nhận việc ông thần tượng đạo diễn Nhật Yasujiro Ozu trong cách xây dựng bộ phim của mình với những khoảng lặng cần có để miêu tả cảm xúc, hình ảnh luôn tĩnh và máy quay một chiều. Nhưng khác với Yasujiro Ozu, phim của Hou thường đưa người xem đến những xung đột trong không gian hiện tại hoặc quá khứ, không gian bên ngoài và những dữ kiện qua lời kể.
Năm 1989, sự nghiệp của Hou đạt đến đỉnh cao khi ông giành được giải thưởng Sư tử vàng tại LHP quốc tế Venice cho bộ phim lịch sử City of Sadness (Beiqing chengshi) dài 153 phút. Đây là lần đầu tiên Sư tử vàng được trao cho một phim tiếng Hoa. City of Sadness tái hiện lại môt phần lịch sử của người dân Đài Loan trong suốt bốn năm ròng trong cuộc chiến với Nhật và chính phủ đương thời, những năm được gọi là sự kiện 28/02/1947. Câu chuyện thông qua gia đình nhà họ Lâm qua ba anh em ruột, mỗi người một tính cách, một bối cảnh riêng và cùng tồn tại giữa một đất nước đầy biến động.

City of Sadness (1989)
Ngoài ra, ông còn đảm nhận vai trò nhà sản xuất cho bộ phim Raise the Red Lantern của Trương Nghệ Mưu.
Hou tiếp tục thể nghiệm một ít tính lịch sử của Đài Loan vào bộ phim semi-documetary (phim truyện - tài liệu) The Puppetmaster (1993), tiêu điểm là sự chiếm đóng của người Nhật được biểu lộ qua cái nhìn của nghệ sĩ Li Tien-lu. Hai năm sau, Hou hoàn thành bộ ba phim về lịch sử Đài Loan (cùng với City of Sadness và The Puppetmaster) bằng Good Men, Good Women với khái niệm "When yesterday's sadness is about to die. When tomorrow's good cheer is marching towards us. Then people say, don't cry. So why don't we sing". Phim được nói đến nhiều nhất những năm 90 tại Đài Loan như một tác phẩm xuất sắc, đem về cho chủ nhân của nó những giải thưởng tại LHP Singapore, LHP Hawaii, LHP Golden Horse, LHP Fribourg, LHP Changchun, đề cử tại Cannes 1995…
Đạo diễn Pháp Olivier Assayas làm một phim tài liệu về Hou có tên HHH: Portrait of Hou Hsiao Hsien. Jonathan Crow kể về giai đoạn làm phim và những cuộc trò chuyện về thái độ làm việc của bản thân.

HHH: Portrait of Hou Hsiao Hsien (1997)
Một năm sau, với tựa đề Goodbye South Goodbye (Nan guo zai jian nan guo) và hình ảnh mở đầu của một cặp nam nữ đi môtô chạy băng qua những con đường mòn là cách mà bộ phim giúp cho Hou đến với thực tế làm phim khác hơn. Trong đó phải kể đến bộ phim dài duy nhất của Hou làm về thế giới cổ xưa của văn hóa Trung Hoa Flowers of Shanghai (Hai shang hua) với những khuôn hình đẹp như mộng qua màu vàng của ánh đèn và âm nhạc hòa quyện, giúp ông đọat giải tại LHP Kerala, LHP Asia-Pacific…
Năm 2001, Millennium Mambo (Qianxi Mambo) của Hou vinh dự là phim đầu tiên trong lịch sử LHP Cannes khi phá vỡ qui tắc truyền thống của LHP này: phim chiếu khai mạc cũng sẽ được tranh giải Cành Cọ Vàng. Báo chí quốc tế nói khá nhiều đến việc này, nhất là khi Millennium Mambo đoạt giải Technical Grand Prize cho âm thanh và hình ảnh xuất sắc. Sau này, các phim khác cũng theo luật mới: vừa chiếu khai mạc (trừ bế mạc) vừa tranh giải nhưng tất cả đều thất bại. Millennium Mambo còn được chọn là một trong mười phim hay nhất năm 2001 bởi Les Cahiers du Cine’ma (France). Câu chuyện của bộ phim xảy ra ở Đài Bắc vào cuối năm 2000 đầu thiên niên kỉ mới với cuộc tình tay ba giữa Vicky, Hao-hao và Jack. Diễn viên Thư Kỳ nhờ vai diễn nặng kí này đã tạo nên tên tuổi và bước ngoặt lớn trong sự nghiệp. Riêng đạo diễn Hou thì đây là lần thử nghiệm đầu tiên và thành công của ông ở thể loại phim dramamelo pha chút hippie của thời đại với ngôn ngữ kể chuyện đặc biệt. Phim còn đoạt một số giải tại LHP Chicago, LHP Flanders, LHP Golden Horse…

Millennium Mambo (2001)
Năm 2004, Hou sang Nhật để thực hiện bộ phim Café Lumière với dàn diễn viên bản xứ Yo Hitoto, Tadanobu Asano, Masato Hagiwara… để kể lại câu chuyện về một cô gái trẻ và bước ngoặt lớn trong đời khi trên chuyến tàu về nhà, cô ghé qua hiệu sách của một người đàn ông lạ và yêu anh ta. Bộ phim chiếu vào tháng 9 tại Nhật và tháng 11 tại Đài Loan. Phim giúp Hou quay trở lại thành phố xinh đẹp của Ý sau 15 năm tại LHP Venice. Phim đoạt giải Golden Tulip tại LHP Istanbul. Theo thông tin ghi nhận được thì đây là bộ phim thai nghén đầu tiên trong loạt bộ ba phim hợp tuyển, các phân đoạn được làm bởi những đạo diễn khác nhau, nhằm kỉ niệm 100 năm ngày sinh của nhà làm phim gạo cội Yasujiro Ozu.

Café Lumière (2004)
Tháng 11/2004, Hou ra mắt đoàn làm phim Three Times (Zui hao de shi guang) với ý tưởng về một bộ phim tập hợp ba câu chuyện ngắn mà trong đó câu chuyện của năm 2005 sẽ tái hiện lại một phần hình tượng của cô ca sĩ giật gân tại Đài Loan. Bộ phim này được xem là tiêu tốn nhiều công sức, thời gian và tiền bạc của Hou để quay trong gần 6 tháng và gấp rút hoàn thành để có mặt tranh giải tại LHP Cannes 2005. Bộ phim giúp ông là một trong những đạo diễn Châu Á nhiều phim tranh giải tại LHP này nhất (6 phim). Tại buổi họp báo trong đêm chiếu ra mắt khán giả Cannes, Hou bộc bạch lý do để ông bắt tay vào thực hiện Three Times: “Bây giờ tôi đã ở tuổi 60, gần như là không còn nhiều thời gian để nhớ về kỉ niệm đẹp của quá khứ. Trước đây, tôi đã từng thực hiện The Boys from Fengkeui, Flowers of Shanghai, Millennium Mambo và nay tôi muốn tập hợp lại một lần nữa những hình ảnh, những khoảng khắc đẹp trong từng giai đoạn và thời kì làm phim của mình. Ngày nay, thật khó để tìm được một không gian như năm 1966, khoảng thời gian tôi đã sống và đam mê mãnh liệt. Vì thế tôi quyết định tái hiện lại câu chuyện này, đồng thời kiêm luôn hai câu chuyện còn lại, như một phần kỉ niệm khó quên của cuộc đời tôi".

Three Times (2005)
Trước đây, dự án Three Times được khởi xướng từ một hãng phim tại hội chợ phim Pusan – Hàn Quốc. Sau đó, hai đạo diễn thực hiện phần 1911 và 2005 tạm dừng vì kinh phí không cho phép thì Hou bắt tay dàn dựng cả ba phần. Phim với những cảnh quay bối cảnh tập trung nhất định, âm nhạc đóng vai trò quan trọng tuyệt đối cho phim. Ban đầu đạo diễn Hou giữ nguyên không gian tĩnh mịch cho phần năm 1966, nhưng sau đó lại thay đổi bằng cách đưa vào những bản nhạc một thời yêu thích của ông: Rain and Tears, Smoke Gets in Your Eyes... Năm 1911, Hou quyết định để cho Thư Kỳ tập hát như một ca kĩ thời xưa và tập trung khai thác phần nhạc nền được viết cho piano bởi một người bạn rất thân của ông tại Pháp. Phần năm 1911 không hề có lời thoại mà chủ yếu dựa vào ngôn ngữ hình ảnh, tranh và chữ.
Three Times tuy không thành công với những giải thưởng danh giá nhưng nhờ nó mà Hou lấy lại tên tuổi ở quê nhà. Đồng thời đây là bộ phim đầu tiên của Hou được trình chiếu rộng rãi tại Mỹ và nhiều nơi khác qua nhà phát hành IFC Films - một nơi tuyển lựa những tác phẩm hay của thế giới để công chiếu, giúp ông có thể nhiều người hâm mộ cuồng nhiệt trong đó có đạo diễn Mĩ Jim Jarmusch.
Một quan niệm mới
Hou đã gạt bỏ thể loại kịch melo trực diện nhưng khán giả vẫn có thể cảm nhận được nội lực của những cảm xúc ẩn sau các cảnh quay dài mang đặc trưng của ông qua những thước phim êm đềm và ẩn dật. Các tác phẩm của ông được chào đón nhiều ở Châu Âu và Nhật Bản đến nỗi ông làm hẳn một phim tại Nhật là Café Lumière và một phim tại Pháp vừa trình chiếu giới hạn hồi tháng 5/2006 Looking for the Red Balloon (Le Voyage Du Ballon Rouge).

Looking for the Red Balloon (2006)
Looking for the Red Balloon, cùng diễn xuất của nữ diễn viên Pháp Juliette Binoche, là một cuộc dạo chơi bên ngoài lãnh thổ Châu Á đến Pháp. Bộ phim có vai trò quan trọng trong lĩnh vực Un Certain Regard tại liên hoan phim Cannes lần 60 và là một cống hiến cho thể loại phim trẻ em kinh điển The Red Balloon. Bộ phim tập trung vào vai của nhân vật người giữ trẻ Trung Quốc cùng chia sẻ thế giới đầy tưởng tượng của mình với đứa bé mà mình đang trông nom. Cả hai đã đuổi theo những cuộc phiêu lưu mạo hiểm với quả khinh khí cầu đỏ đầy bí ẩn. Đạo diễn Hou nói rằng “Khinh khí cầu đỏ là biểu tượng của hy vọng và sự quan tâm. Tôi muốn nói lên mối quan hệ tinh tế giữa quả cầu đỏ và trẻ con.”
Phải mất sáu tuần Hou mới quay xong cảnh phim tại Pháp. Ông vẫn thường tuyển dụng những diễn viên không chuyên để đóng phim. Sự ứng biến bao quát được ghép thêm vào cách diễn nhẹ nhàng tự nhiên của diễn viên. Song Fang, một sinh viên đang theo học chuyên ngành đạo diễn tại học viện điện ảnh Bắc Kinh, đóng vai người giữ trẻ Trung Quốc trong phim. Song nói: “Đây là lần đầu tiên tôi đóng phim. Nhưng may mắn là tôi đã nhận được rất nhiều chỉ dạy từ đạo diễn. Mối quan hệ tốt với đoàn làm phim cùng sự kiên nhẫn của Hou càng làm tôi tin rằng đạo diễn là một công việc đòi hỏi tinh thần làm việc đồng đội.”
Cá tính

Máy quay của Hou luôn hướng đến sự thật bất diệt. Ông thích ghi lại khoảnh khắc của thời kỳ quá độ và tin tưởng rằng điện ảnh là một phương tiện hùng mạnh có thể chuyển tải ý nghĩa trọn vẹn hơn cả ngôn từ. Trong buổi LHP quốc tế Sahnghai lần thứ 10 diễn ra ở Thượng Hải, ông đã nói rằng: “Điện ảnh còn thể hiện một chức năng quan trọng khác cũng như đời tư của một người trải nghiệm song hành cùng với xã hội rộng lớn hay theo dòng lịch sử". Mặc dù cách dẫn dắt câu chuyện của ông léo lắt nhưng khán giả vẫn rất khâm phục trước phong cách diễn tả sắc bén của ông – sự chuyển động máy quay theo từng chi tiết nhỏ, những cảnh chụp tĩnh lặng kéo dài, góc quay thấp và nhấn mạnh vào sắc thái trầm mặc trong thể hiện cảm xúc con người.
Với dáng vẻ thanh lịch và hòa nhã, Hou có tôn chỉ làm phim rất rõ ràng và kiên định, đó chính là “hãy là chính mình”. Nhưng không chỉ là một đạo diễn, ông còn nghĩ và viết thành kịch bản phim. Có vẻ như giải thưởng cho các bộ phim được hâm mộ và xu hướng làm phim trong những giai đoạn khác nhau luôn ảnh hưởng đến tác phẩm của ông. Hou nói thêm “nhưng tôi biết mình thực sự cần gì vào lúc này. Tôi không còn trẻ. Giờ đây tôi mong mình sẽ thể hiện các bộ phim thật sự độc đáo và truyền tải cảm xúc đến người xem hơn là dành sự đam mê và năng lượng của mình cho các giải thưởng. Tôi yêu thích điện ảnh. Tôi sẽ không ngừng nghỉ sau ống kính máy quay cho đến ngày tôi không thể quay được nữa".
Hou cho rằng nền điện ảnh Đài Loan đã trải qua giai đoạn hưng thịnh và bây giờ đang đối diện với giai đoạn suy tàn và phai nhạt dần. Ông cho rằng sự suy tàn của ngành điện ảnh chủ yếu là do kinh tế đang suy thoái tại Đài Loan. Việc thiếu vắng tính phong phú về nội dung phim cũng gây hại cho nền công nghiệp điện ảnh. Hou nói thêm: “Rất nhiều nhà sản xuất phim ở Đài Loan và các nhà phân phối rất hăm hở mua lại các bộ phim vũ thuật ngoạn mục từ Hong Kong đến nỗi mà họ không ủng hộ cho các thể loại phim khác và hỗ trợ cho các nhà đạo diễn phim trẻ tuổi".
Mặc dù ông tiên đoán là nền điện ảnh Đài Loan phải mất ít nhất 10 năm nữa mới có thể khôi phục trở lại nhưng ông cũng rất vui khi thấy rằng có nhiều nhà làm phim còn đang ngồi trên ghế nhà trường tại Đài Loan đã mang lại rất nhiều nhân tố mới lạ trong các tác phẩm của họ. “Thế hệ thanh niên tràn đầy sinh lực và tính sáng tạo độc đáo, và cùng với sự bùng nổ về cách làm phim theo kiểu truyền hình số, họ không chịu nhiều áp lực về tài chính khi làm phim. Vai trò của chúng ta là mang những kinh nghiệm và tiềm lực của bản thân để trải đường cho những tài năng trẻ này”.
Hou tự cho bản thân mình là “người yêu thích các tác phẩm văn chương Trung Hoa kinh điển” từ hồi còn thơ ấu. Kế hoạch quay phim sắp tới của ông có thể liên quan đến trích đoạn “The Legend of the Tang Dynasty”, một bộ sưu tập cổ xưa về các câu chuyện kể và câu chuyện thần thoại của Tang (618-907 sau CN) thông qua nhân vật nữ chính có nhiều biệt tài biến hoá - một hình mẫu của Tôn Ngộ Không nữ giới. Ông cũng tiết lộ thêm vai diễn đã được đo ni đóng giày cho Thư Kỳ. Ông cũng nói, đây sẽ là bộ phim kinh phí cao nên còn cần tìm được nhà tài trợ thích hợp.
Phim của Hou ảnh hưởng từ chính cuộc sống của ông tại Đài Bắc những năm 50-60. Thập kỉ 50, người dân đất lành phải đấu tranh cho sự sống của họ. Đến thập kỉ 60 thì đã thấy sự thay đổi nhanh lẹ với những sự tiến bộ về kinh tế và Tây hoá, hiện đại hoá một Đài Bắc. Những ảnh hưởng ấy đã được thể hiện gần gũi trong phim của Hou. Ông nói rằng “Văn hóa không thể sao chép được.” Sẽ không có bộ phim phương Tây nào có thể chạm đến được cái hồn của văn hóa Trung Hoa. Sứ mệnh của chúng ta là duy trì văn minh và lịch sử của đất nước mình qua các hình ảnh trong phim. Muốn hiểu thêm điều đó, bạn hãy tìm xem các phim của ông!
(Tổng hợp từ nhiều nguồn)
Bài viết của Virgoxine (c) www.yXine.com 2007
|